khi nghiên cứu về tội phạm thì

Khi nghiên cứu về vi phạm pháp luật thì khẳng định nào sau đây là đúng? A. Mọi hành vi trái pháp luật đều xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ b. Có đủ căn cứ xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Trả lời: Căn cứ vào K1 Đ126 BLTTHS thì khi có đủ căn cứ xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội thì cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can. Người nào quảng cáo gian dối về hàng hóa, dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 10 triệu đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm". Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) đã quy định tội "Mua bán người" tại Điều 150 (BLHS 2015): "1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 Mô tả và phân tích "bức tranh tội phạm" trong nghiên cứu tình hình tội phạm không phải chỉ để biết những gì đã xảy ra mà quan trọng hơn là để giải thích, phát hiện nguyên nhân, để dự liệu tội phạm sẽ xảy ra như thế nào trong thời gian tới và qua đó tạo cơ sở cho việc đưa ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Kostenlos Mit Singles Schreiben Ohne Anmeldung. Nghiên cứu tình hình tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong tội phạm học. Bằng những phương pháp nghiên cứu khác nhau, cho ta thấy “bức tranh toàn cảnh” về tội phạm đã xảy ra. Nghiên cứu tình hình tội phạm là nghiên cứu thực trạng và diễn biến của tội phạm, đó là "bức tranh" toàn cảnh về tội phạm đã xảy ra. Để có được “bức tranh” như vậy, đòi hỏi việc nghiên cứu tình hình tội phạm phải thực hiện các nội dung nghiên cứu cụ thể và cần sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với các nội dung nghiên cứu cụ thể Ý nghĩa của nghiên cứu tình hình tội phạm Kết quả nghiên cứu tình hình tội phạm cho chúng ta “bức tranh" toàn cảnh về tội phạm đã xảy ra. “Bức tranh” toàn cảnh này không chỉ thể hiện đặc điểm định lượng tổng số tội phạm cũng như tổng số người phạm tội - con số phản ánh mức độ nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra mà còn thể hiện cả đặc điểm định tính các cơ cấu bên trong của tội phạm và của người phạm tội mà những cơ cấu này phản ánh tính chất nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra. “Bức tranh” toàn cảnh về tội phạm đã xảy ra không chỉ thể hiện tình trạng tĩnh của các tội phạm đã xảy ra mà còn thể hiện cả diễn biến tăng, giảm hoặc tương đối ổn định về số lượng cũng như về tính chất của tình trạng này. Nghiên cứu tình hình tội phạm không chỉ dừng lại ở mô tả “bức tranh tội phạm” mà đòi hỏi còn phải phân tích “bức tranh”, so sánh các “bức tranh” với nhau để qua đó có được sự đánh giá đầy đủ và toàn diện tính nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra - nghiêm trọng về mức độ cũng như nghiêm trọng về tính chất. Mô tả và phân tích “bức tranh tội phạm” trong nghiên cứu tình hình tội phạm không phải chỉ để “biết” những gì đã xảy ra mà quan trọng hơn là để giải thích, phát hiện nguyên nhân, để dự liệu tội phạm sẽ xảy ra như thế nào trong thời gian tới và qua đó tạo cơ sở cho việc đưa ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm. 2. Phương pháp nghiên cứu tình hình phạm tội Nghiên cứu tình hình tội phạm với mục đích để đánh giá, phát hiện nguyên nhân, để dự liệu tội phạm sẽ xảy ra như thế nào trong thời gian tới là dạng nghiên cứu mô tả trong nghiên cứu thực nghiệm. Đó là quá trình gồm hai bước -Bước thu thập dữ liệu thực tiễn phản ánh nội dung định lượng và nội dung định tính của thực trạng và diễn biến cùa tội phạm trong đơn vị không gian và thời gian xác định. Đó là dữ liệu về số lượng tội phạm và người phạm tội, dữ liệu về các cơ cấu của tội phạm mà qua đó phản ánh được tính chất của tội phạm trong thời gian tổng thể và trong từng năm. Bước này đòi hỏi phải có phương pháp tìm kiếm luận cứ thực tế. -Bước xử lí các dữ liệu đã thu thập được để kiểm chứng các giả thuyết mô tả tình hình tội phạm và đi đến các nhận định về thực trạng và diễn biến của tội phạm được nghiên cứu. Bước này đòi hỏi phải có phương pháp tổ chức chứng minh luận điểm khoa Về bước thứ nhất Đây là bước quan trọng, tạo cơ sở cho bước thứ hai. Trong bước thu thập dữ liệu này, với các đòi hỏi của yêu câu mô tả thì các phương pháp tiếp cận cần phải được lựa chọn là tiếp cận định lượng, tiếp cận tổng thể và tiếp cận bộ phận. Để có thể tiếp cận bộ phận đúng đòi hỏi người nghiên cứu phải sử dụng đúng các phương pháp chọn mẫu. Trong đó, các phương pháp chọn mẫu thường được lựa chọn là chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản hoặc chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống. Phương pháp thu thập dữ liệu thường được ưu tiên sử dụng trong thực tế là phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu. Trước hết là các dữ liệu có trong thống kê tội phạm của các cơ quan tư pháp trung ương và địa phương công an, viện kiểm sát và toà án. Việc thu thập các dữ liệu thống kê tội phạm có sẵn này cần được tận dụng tối đa. Tuy nhiên, các thống kê tội phạm có sẵn này đều có giới hạn mà không thể đáp ứng được tất cả các yêu cầu của người nghiên cứu. Do vậy, người nghiên cứu bên cạnh việc sử dụng dữ liệu đã có sẵn trong thống kê vẫn cần phải tự thu thập các dữ liệu khác qua việc phân tích các dữ liệu có trong các bản án hình sự. Đây cũng là dạng đặc thù của phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu. Nội dung các dữ liệu thu thập theo kiểu này được người nghiên cứu đặt ra để đảm bảo phục vụ mục đích nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, người nghiên cứu không thể nghiên cứu toàn bộ các bản án thuộc phạm vi nghiên cứu của mình. Ở đây, người nghiên cứu không thể chọn cách tiếp cận tổng thể mà phải chọn cách tiếp cận bộ phận, vấn đề được đặt ra là chọn bộ phận nào? Với số lượng bao nhiêu? Người nghiên cứu không thể tuỳ tiện chọn mà phải tuân theo các nguyên tắc chọn mẫu để đảm bảo tính đại diện. Cùng với phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu trên, người nghiên cứu còn có thể sử dụng một số phương pháp khác để thu thập dữ liệu như phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra tự Về bước thứ hai Đây là bước xử lí các dữ liệu đã thu thập được. Đối với các dữ liệu dưới dạng số liệu phục vụ mô tả đặc điểm định lượng của tội phạm thực trạng của tội phạm xét về mức độ cũng như diễn biến của tội phạm xét về mức độ thì việc xử lí được thực hiện với phương pháp thống với các dữ liệu phục vụ mô tả đặc điểm định tính của tội phạm thực trạng của tội phạm xét về tính chất cũng như diễn biến của tội phạm xét về tính chất thì việc xử lí được thực hiện với phương pháp logic để có được các kết luận về tính chất cũng như diễn biến về tính chất của tội phạm được nghiên là hai phương pháp xử lí dữ liệu cùng được sử dụng khi nghiên cứu tình hình tội phạm. Xử lí các dữ liệu để đi đến các nhận định về tình hình tội phạm đòi hỏi người nghiên cứu phải sử dụng các phương pháp kiểm chứng giả thuyết. Thông thường phương pháp kiểm chứng được sử dụng là phương pháp chứng minh giả thuyết. Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH EverestBài viết trong lĩnh vực hình sự nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail [email protected]. Trang chủ CNTT Đại cương ADMICRO A. Tội phạm là một hiện tượng mang tính tự nhiên B. Tội phạm là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử C. Tội phạm là một hiện tượng tồn tại vĩnh viễn D. Tội phạm là một hiện tượng mang tính bẩm sinh Hãy suy nghĩ và trả lời câu hỏi trước khi xem đáp án ANYMIND360 / 1 Câu hỏi này thuộc ngân hàng trắc nghiệm dưới đây, bấm vào Xem chi tiết để làm toàn bài ZUNIA12 ZUNIA9 ADMICRO TÀI LIỆU THAM KHẢO Nguyên nhân của tội phạm là vấn đề luôn làm các nhà nghiên cứu phải đau đầu bới tìm hiểu về nguyên nhân của tội phạm đòi hỏi người nghiên cứu phải tiếp cận đa chiều với việc phân tích các nhân tố khác nhau có thể tác động, ảnh hưởng đến việc phát sinh tội phạm. Khái niệm Nguyên nhân của tội phạm là tổng hợp các nhân tố mà sự tác động qua lại giữa chúng đưa đến việc thực hiện tội phạm của người phạm rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tội phạm, ở mức độ tổng quan có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành những nhóm nguyên nhân sau - Nhóm nguyên nhân từ môi trường sống; - Nhóm nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội; - Tình huống cụ thể trong một số trường hợp được coi là nguyên nhân đưa đến việc phát sinh tội phạm; Như vậy có thể tóm gọn lại có thể mô tả nguyên nhân tội phạm như sau Cá nhân chịu tác động từ môi trường sống tiêu cực khi gặp những tình huống cụ thể sẽ hình thành nên nhân cách sai lệch cá nhân từ đó nảy sinh ý định phạm tội đồng thời tiếp tục gặp những tình huống cụ thể từ đó dẫn đến việc thực hiện tội phạm. Phân loại nguyên nhân của tội phạm Tội phạm phát sinh là kết quả tác động của hàng loạt các nguyên nhân khác, nhau. Trong tội phạm học, các nhà khoa học có các cách phân loại nguyên nhân của tội phạm sauThứ nhất, căn cứ vào mức độ tác động của nguyên nhân trong việc làm phát sinh tội phạm, có thể chia nguyên nhân thành nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu. Nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm là những nhân tố đóng vai trò chủ chốt trong việc làm phát sinh tội phạm và những nhân tố này chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng số các nhân tố làm phát sinh tội phạm. Nguyên nhân thứ yếu làm phát sinh tội phạm là những nhân tố chỉ đóng vai trò hạn chế trong việc làm phát sinh 101 phạm và những nhân tố này chiếm tỉ trọng không đáng kể trong tông sô các nhân tố làm phát sinh tội hai, căn cứ vào nguồn gốc xuất hiện, có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống và nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội. Nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống là tổng hợp các nhân tố tiêu cực được hình thành từ môi trường sống của cá nhân có thể tác động, ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ nhất định mà từ đó làm phát sinh tội phạm. Ví dụ như các nhân tố môi trường gia đình không hoàn thiện, môi trường nơi cư trú có nhiều tệ nạn xã hội... Nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội là tổng hợp những nhân tố tiêu cực thuộc về nhân thân người phạm tội có thể tác động, ảnh hưởng, dẫn đến việc làm phát sinh tội phạm của người phạm tội. Những nhân tố tiêu cực này có thể là các yếu tố thuộc về sinh học, tâm lí, xã hội-nghề nghiệp của người phạm ba, căn cứ vào lĩnh vực hình thành nguyên nhận có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành các nguyên nhân sau Đầu tiên, với nguyên nhân về kinh tế-xã hội Đây là những nhân tố thuộc về lĩnh vực kinh tế-xã hội có thể tác động làm phát sinh tội phạm như tình trạng thât nghiệp, đói nghèo, tác động của quá trình đô thị và công nghiệp hoá, tác động của quá trình di dân... Tiếp theo, nguyên nhân về văn hoá, giáo dục Đây có thể là những nhân tố hạn chế trong quá trình quản lí, triển khai thực hiện các chính sách, chương trình về văn hoá, giáo dục có thể tác động, ảnh hưởng làm phát sinh tội phạm. Ví dụ Nhà trường chưa coi trọng việc giáo dục các em gái biết cách tự bảo vệ bản thân nhằm ngăn chặn hiệu quả tội phạm tình dục. Bên cạnh đó nguyên nhân về tổ chức qụản lí có thể là do một số thiếu sót, bât cập trong hoạt động của các cơ quan chức năng có thẩm quyền quản lí trong lĩnh vực nhất định. Thuộc về nguyên nhân này có thể là các nhân tố như buông lỏng quản lí, đùn đẩy trách nhiệm, không hợp tác trong giải quyết vụ việc,... Cuối cùng là nguyên nhân về chính sách, pháp luật Đây có thể là một số thiếu sót, bất cập của chính sách, pháp luật có thể tác động, ảnh hưởng làm phát sinh tội phạm. Ví dụ như quy định về giải phóng mặt bằng, đền bù đất nông nghiệp còn lỏng lẻo dẫn đến một số cá nhân hoặc doanh nghiệp lợi dụng sơ hở của pháp luật để đền bù không thoả đáng cho một số hộ dân dẫn đến những người này có phản ứng tiêu cực là chống người thi hành công vụ. Khuyến nghị 1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại. 2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 19006198, E-mail [email protected]. Download Xã hội học pháp luật Phân tích mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo yêu cầu and more Sociology of Law Thesis in PDF only on Docsity! BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TIỂU LUẬN MÔN XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT Đề tài Phân tích mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo khu vực địa lý, giới tính và sự phân tầng xã hội, cho ví dụ cụ thể về tội phạm mua bán người Bài làm có ít nhất 5 điều luật của các văn bản pháp luật được trích dẫn. Họ và tên PHAN DIỆU LINH Ngày, tháng, năm sinh 22/10/2003 MSSV 460823 Lớp 4608 N15-TL1 Ngành Luật chung DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TAND Tòa án Nhân dân UBND Uỷ ban Nhân dân BLHS Bộ Luật hình sự MỤC LỤC MỞ ĐẦU.................................................................................................................................................2 II. NỘI DUNG...........................................................................................................................................2 1. Mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo khu vực địa lý, giới tính và sự phân tầng xã hội.......2 Khái niệm chung về hiện tượng tội phạm....................................................................................2 Mô hình hiện tượng tội phạm theo khu vực địa lý......................................................................2 Mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo giới tính............................................................3 Mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo sự phân tầng xã hội..........................................4 2. Liên hệ phân tích mô hình nghiên cứu tội phạm mua bán người.......................................................4 Pháp luật hành quy định hành vi mua bán..................................................................................4 Mô hình nghiên cứu tội phạm mua bán người theo khu vực địa lý.............................................6 Mô hình nghiên cứu tội phạm mua bán người theo giới tính......................................................7 Mô hình nghiên cứu tội phạm mua bán người theo phân tầng xã hội........................................7 KẾT LUẬN...............................................................................................................................................8 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................................9 1 tâm sinh lý của nam giới, họ là những người thuộc về “phái mạnh”, thường có xu hướng “hành động” hơn là “lời nói”. Nhiều khi những tình huống mâu thuẫn xảy ra, họ thường dùng hành động để giải quyết. Sự kiềm chế của nam giới cũng kém hơn phụ nữ nên khi bị kích động đến một giới hạn nhất định, nam giới rất có thể sẽ dễ dàng gây ra hành vi phạm tội. Ở một số khía cạnh khác, nam giới vì “cái tôi” bản thân quá cao nên cũng rất dễ bị chính những thứ gọi là “sĩ diện” đó chi phối hành vi. Hơn nữa, trong cuộc sống thường ngày, nam giới cũng là phái phải gánh trên vai trách nhiệm, là trụ cột của gia đình. Áp lực từ công việc, từ cuộc sống cũng là một phần nhân tố tác động đến hành vi phạm tội của họ. Đặc biệt, trong tội phạm cụ thể như tội hiếp dâm, vì đặc điểm sinh lý, nên người phạm tội chỉ có thể là nam giới phụ nữ chiếm rất ít, hầu như không đáng kể. Hay như tội bạo hành, ngược đãi thì người phạm tội cũng đa phần là nam giới. Mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo sự phân tầng xã hội Đây mô hình nghiên cứu tượng tội phạm dựa theo phân tích cấu xã hội - giai cấp. Sự phân tầng xã hội cùng với qúa trình phân hóa giàu nghèo xã hội đưa tới hình thành nên giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, có mức sống và chất lượng sống khác Những điều kiện xã hội như sự nghèo khổ, bất ổn định về kinh tế, tình trạng nhà ở tồi tàn, định hướng giáo dục kém… dễ dẫn tới tội phạm hơn. Do đó, tầng lớp bình dân, người nghèo thường mắc phải tội phạm nhiều hơn vì họ phải đối đầu nhiều hơn với các hoàn cảnh kinh tế và xã hội gay go. Ngoài ra con em của họ có thể bị xã hội hóa nhiều hơn theo cung cách tiếp xúc với môi trường tội phạm trong quá trình xã hội hóa cá nhân, bởi do mải mê với công việc mưu sinh, người nghèo ít có điều kiện, công sức, tiền bạc dành cho việc chăm sóc, bảo vệ, giáo dục con em. 2. Liên hệ phân tích mô hình nghiên cứu tội phạm mua bán người Pháp luật hành quy định hành vi mua bán Mua bán người là việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người nhằm thu lợi nhuận bất hợp pháp từ việc bóc lộc các nạn nhân dưới nhiều hình thức khác nhau như bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy và buôn bán nội tạng... Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt 2 Chủ biên Văn Nhân, Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Xã hội học pháp luật, NXb Tư pháp, 2018, tr 364, Hà Nội 4 Nam quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm thân thể, pháp luật bảo vệ sức khỏe, danh dự nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay hình thức đối xử khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. Do đó, thân thể, phận thể tài sản vô giá người, việc mua bán người, phận thể người bị pháp luật cấm. Tội phạm mua bán người đã được BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định tại Điều 150 Tội mua bán người, Điều 151 Tội mua bán người dưới 16 tuổi và Điều 154 Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người. Cùng với các điều luật liên quan bao gồm quy định tại khoản a Điều 6 Luật đầu tư 61/2020/QH14 quy định “Mua, bán người, mô, xác, bộ phận thể người, bào thai người” ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và Điều 10 Luật phòng chống mua bán người về “Quản lý các hoạt động kinh doanh, dịch vụ”. Cùng với khoản 6 Điều 11 Luật Hiến, lấy, ghép mô, phận thể người hiến xác năm 2006 “Mua, bán mô, phận cơ thể người; mua, bán xác; Lấy, ghép, sử dụng, lưu giữ mô, bộ phận thể người mục đích thương mại” hành vi bị nghiêm cấm thực. Ngoài ra, hiến mô, bộ phận thể người là việc cá nhân tự nguyện hiến mô, bộ phận thể cơ thể sống sau khi chết. Đây là quyền công dân, cá nhân quy định Điều 35 Bộ luật Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác “Cá nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác. Cá nhân có quyền nhận mô, bộ phận cơ thể của người khác để chữa bệnh cho mình. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học có quyền nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác. Việc hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người, hiến, lấy xác phải tuân thủ theo các điều kiện và được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác và luật khác có liên quan.” Như vậy, pháp luật hành quy định nguyên tắc việc hiến, lấy, ghép mô, phận thể người hiến, lấy xác bao gồm Tự nguyện người hiến, người ghép; Vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy nghiên cứu khoa học; Không nhằm mục đích thương mại; Giữ bí mật thông tin có liên quan đến người hiến, người ghép, trừ trường hợp bên có thỏa thuận khác pháp luật có quy định khác. 5 Mô hình nghiên cứu tội phạm mua bán người theo khu vực địa lý Nơi có số người bệnh chữa trị tại các bệnh viện uy tín lớn đặc biệt là ở Hà Nội, chính vì đó mà một số đối tượng đã lợi dụng, có hành vi mua bán bộ phận cơ thể người càng xuất hiện tràn lan, bất hợp pháp. Nguyên nhân sâu xa của vấn nạn mua bán bộ phận thể người cầu vượt cung nên ngành ghép tạng nước ta phải đối mặt với thực trạng thiếu trầm trọng nguồn phận thể để cấy ghép. Ví dụ Ngày 15/10, Phòng Cảnh sát hình sự Hà Nội đã khởi tố bị can với Trần Văn Phương 29 tuổi để điều tra về tội Mua bán mô và bộ phận cơ thể người, theo điều 154 BLHS 2015 sửa dổi, bổ sung 2017. Liên quan vụ án, cơ quan điều tra đang làm rõ hành vi của Lê Thùy Linh 22 tuổi, Bình Dương, Hoàng Ngọc Tiến 30 tuổi, Quảng Trị và Phan Văn Hùng 27 tuổi, Nghệ An. Theo điều tra của cảnh sát, nắm bắt được nhu cầu ghép thận của người bệnh, Phương đăng tin trên mạng xã hội về việc tìm người mua - bán thận. Khi có người liên lạc, Phương thu xếp để người bán và mua gặp nhau, đồng thời làm giả hồ sơ dưới dạng tự nguyện hiến tặng cho nhau. Phương làm môi giới, giao dịch giá mua từ 250 triệu đồng đến 320 triệu, song "báo giá" với người cần ghép thận là 340-360 triệu đồng để hưởng chênh lệch. Với mật độ dân số cao, việc đối tượng tìm kiếm nạn nhân để thực hành vi mua bán phận thể người dễ dàng so với khu vực nông thôn. Đô thị hay thành phố lớn nơi người từ nhiều nơi tập trung để sinh sống, làm việc học tập phân tích lối sống thị thường mang tính dửng dưng, xã giao, thiếu tình người, thiếu tính cố kết cộng đồng. Ngược lại nông thôn, việc đối tượng xuất thực hành vi phạm tội cụ thể mua bán phận thể người dễ bị phát hiện, thị nơi thích hợp cho đối tượng mua bán phận thể người có nguồn cung lớn, mối giao dịch rộng kiểm sốt xã hội thị nhìn chung lỏng lẻo. Những năm gần đây, nông thôn trở thành điểm nóng tội phạm mua bán phận thể người. Những người dân nông thôn thường hạn chế kiến thức tầm hiểu biết. Cùng với quá trình đô thị hóa, nhiều nơi người dân bị thu hồi đất nông nghiệp, hưởng khoản đền bù lớn lại không biết đầu tư vào làm ăn quay vòng; sau thời gian tiêu xài, mua sắm cho thân, gia đình số tiền hết, họ trở lại với hai bàn tay trắng, không có đất canh tác và nghề nghiệp. Việc khiến họ dễ dàng rơi vào đường dây mua bán phận thể người, trờ thành người bán sau dụ dỗ gia đình bạn bè, thành người mua, cung cấp trái phép nhằm mục đích sinh lời. 6 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Gíao trình 1. Chủ biên Văn Nhân, Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Xã hội học pháp luật, NXb Tư pháp, 2018, Hà Nội. Bộ luật tham khảo 1. Bộ luật Dân năm 2015 sửa đổi bổ, sung năm 2017. 2. Bộ luật Hình năm 2015 sửa đổi bổ, sung năm 2017. 3. Luật Đầu tư 2020. 4. Luật phòng chống mua bán người 2011. 5. Luật hiến lấy ghép mô phận thể người hiến lấy xác 2006. 6. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Link tham khảo 1. Mua bán nội tạng tại Hà Nội Hưởng chênh lệch 100 triệu/quả thận, theo VnExpress, Báo tiền phong, 15/10/2018. 2. Đồng Nai bắt đối tượng cầm đầu đường dây mua bán người qua Campuchia, Nguyễn Văn Việt TTXVN/Vietnam+, 4/1/2022. campuchia/ 3. Thảm cảnh từ nạn buôn người qua biên giới, Cổng thông tin hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 11/9/2011 theo vietbao. 9

khi nghiên cứu về tội phạm thì