các phương pháp giảm đau sau mổ
ERCP là một thủ thuật cho phép bác sĩ vừa chẩn đoán và vừa can thiệp các bệnh lý tại các ống tụy và ống mật. Trong đó, lấy sỏi đường mật bằng phương pháp ERCP rất phổ biến hiện nay. Do sỏi đường mật là một vấn đề thường gặp, với ưu điểm xâm lấn tối thiểu, giảm đau đớn hơn rất nhiều so
Cận thị ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của cuộc sống. May mắn là cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, các phương pháp mổ cận đã ra đời và ngày càng được cải tiến, giúp “team 4 mắt” chấm dứt chuỗi ngày khổ sở vì cận thị.
Mục tiêu của điều trị đau sau mổ. 2. Những nguyên tắc chính của điều trị đau sau mổ. 2.1 Để bệnh nhân tham gia vào kế hoạch điều trị đau đối với họ. 2.2 Phát hiện sớm và điều trị đau có kế hoạch. 2.3 Sử dụng giảm đau đa mô thức. 2.4 Lập hồ sơ đau của bệnh
Thực hiện giảm đau sau mổ tốt sẽ ảnh hưởng tích cực đến tâm lý và giúp bệnh nhân phục hồi nhanh sau khi được phẫu thuật. Theo bác sĩ (BS) Nguyễn Văn Chinh, Trưởng khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện (BV) Nguyễn Tri Phương, trong lúc phẫu thuật, nhờ được gây mê hoặc gây
1.4.4 Chiến lược giảm đau sau mổ. Việc lựa chọn các liệu pháp giảm đau có thể cân nhắc dựa trên mức độ đau của bệnh nhân sau mổ theo Hình 3 và Bảng 2 (phần phụ lục). PT: phẫu thuật; NSAIDs: thuốc giảm đau kháng viêm non-steroid; CCĐ: chống chỉ định; IV: tĩnh mạch. Hình 3.
Kostenlos Mit Singles Schreiben Ohne Anmeldung. KHÁI NIỆM Giảm đau là một thành phần thiết yếu trong chăm sóc bệnh nhân sau các cuộc phẫu thuật, thúc đẩy sự hồi phục sau mổ và làm thay đổi cảm giác, cảm xúc khó chịu, khó ngủ, lo âu, trầm cảm, liên quan đến các tổn thương của mô, thực thể hoặc tiềm ẩn. Đối với mỗi bệnh nhân khác nhau, mức độ đau khác nhau mang tính chất cá nhân, sau mổ thường có những cơn đau cấp trong những ngày đầu và có thể chuyển tiếp thành những cơn đau mãn tính kéo dài. CƠ CHẾ ĐAU Về cơ bản, có hai cơ chế chính dẫn đến cơn đau của bệnh nhân, bao gồm kích thích thụ cảm thể đau, phần lớn liên quan đến viêm, và sự tổn thương tế bào thần kinh ở ngoại biên hoặc trung ương. Ở cơ chế thứ nhất, đau do kích thích nociceptive pain, các thao tác xâm lấn gây tổn thương mô tại vị trí mổ dẫn đến sự phóng thích các chất trung gian hóa học gây đau kinin, histamin, prostaglandin…, các chất này kích thích vào thụ thể đau nociceptor ở đầu tận cùng các dây thần kinh ở các mô đáp ứng. Các tín hiệu này truyền dọc theo sợi C chậm và sợi A-d đến sừng sau tủy sống. Tín hiệu đau sau đó truyền lên đồi thị và võ não. Tại vỏ não, các xung động dẫn truyền cảm giác được xử lý và lưu lại như các trải nghiệm. Trong quá trình tín hiệu đau dẫn truyền từ vỏ não ra ngoại biên trên đường li tâm, các tín hiệu có thể bị suy giảm và ức chế một phần bởi các opioid nội sinh các enkephalin và b-endorphin, g-aminobutyric acid GABA, norepinephrin hoặc serotonin. Sự phong tỏa thụ thể N-methyl-D-aspartat NMDA receptor cũng góp phần làm tăng đáp ứng của các thuốc giảm đau trung ương trên thụ thể m [2, 3]. Ở cơ chế thứ hai, đau sau mổ cũng có thể xảy ra sau các tổn thương dọc theo sợi dẫn truyền cũng như rối loạn cơ chế điều chỉnh cảm giác đau ở thần kinh trung ương. Có thể bị cả chèn ép, tì đè làm nghẽn dẫn truyền của các sợi trục thần kinh. Trường hợp này gọi là đau theo cơ chế thần kinh neuropathic pain. Rất nhiều chất dẫn truyền thần kinh và các chất khác, ví dụ như các cytokin IL-6, IL-8, IL-2β, tham gia vào cơ chế này. Ngoài ra, bệnh nhân sau mổ có thể than phiền đau, nhưng là dạng đau do căn nguyên tâm lý psychogenic pain. Những trường hợp này thường mang yếu tố ám ảnh nhiều hơn cơn đau thực sự với những triệu chứng không điển hình. Bệnh nhân mô tả cơn đau kéo dài dường như không bao giờ chấm dứt mà không thể mô tả rõ ràng. ĐIỀU TRỊ Công tác điều trị đau rất đa dạng nhưng lựa chọn phương pháp giảm đau cần phải cân nhắc dựa trên mức độ đau của bệnh nhân sau mổ, phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính và những bệnh lý kèm theo để chọn được phương pháp điều trị đau sau mổ phù hợp nhất. Các cơn đau do cơ chế kích thích thụ cảm đau thường đáp ứng tốt với các thuốc giảm đau kháng viêm non-steroid NSAIDs và các opioid từ yếu đến mạnh. Tuy nhiên các cơn đau do thần kinh hoặc tâm lý đòi hỏi các cơ chế giảm đau đặc thù hơn và thậm chí là các liệu pháp về tâm lý. Giảm đau sau mổ được khuyến cáo phối hợp các nhóm thuốc có cơ chế tác động khác nhau, gọi là giảm đau đa mô thức multimodal pain management, hay multimodal analgesia. Việc phối hợp giúp đạt hiệu quả giảm đau cao hơn, đồng thời giảm các tác dụng có hại so với dùng liều cao một thuốc giảm đau đơn lẻ. Bốn nhóm chính trong điều trị giảm đau, gồm Các thuốc opioid mạnh morphin, pethidin, fentanylCác thuốc opioid yếu tramadol, codeinCác thuốc giảm đau không opioid paracetamol, NSAIDs chọn lọc và không chọn lọcCác thuốc giảm đau phụ pregabalin, gabapentin, ketamin, clonidin. Hướng dẫn phối hợp tham khảo trong giảm đau sau mổNguồn Phác đồ Ngoại khoa BV Chợ Rẫy 2018, trang 1067-1068 Trường hợpTrước phẫu thuậtTrong phẫu thuậtSau phẫu thuậtPhẫu thuật đau ítLựa chọn một – Paracetamol IV 1-2g; – Ketoprofen PO/IV 50-100mg; – Ibuprofen PO 200-400mg – Diclofenac PO 50-100mg Gây tê vết mổ trước rạch da – Lidocain 1%, 10-20ml – Bupivacain 0,25-0,125%, 5-10ml– Hậu phẫu ngày 1 thuốc giảm đau PO dùng liều ngắt quãng Metamizon 500mg và/hoặc paracetamol 0,5-1g phối hợp với 1 trong các NSAID Ketoprofen 50mg/6-8h; Diclofenac 50mg/8h; Ibuprofen 400mg/8h và Meloxicam 7,5-15mg/ đau trung bìnhLựa chọn một – Gabapentin 600mg 1 viên/uống 4h trước phẫu thuật – Pregabalin 50-75 mg 1 viên/ uống 1h trước phẫu thuật Phối hợp cùng một – Lidocain 1,5mg/kg IV chậm trước khởi mê – Ketamin 50mg bolus IV trước khởi mê– Lidocain 1,5-3 mg/kg/h – Tê thấm vết phúc mạc, vết mổ trước đóng bụng bupivacain/ levobupivacain 2mg/kgrobivacain 3mg/kg – Lidocain 1,5-3 mg/kg/h – Tê thấm vết phúc mạc, vết mổ trước đóng bụng bupivacain/ levobupivacain 2mg/kgrobivacain 3mg/kgPT đau nhiềuLựa chọn một – Paracetamol IV 1-2g; – Ketoprofen PO/IV 50-100mg; Uống – Ibuprofen 200-400mg – Diclofenac 50-100mg Phối hợp với – Lidocain 1,5mg/kg IV chậm trước gây mê – Ketamin 50mg bolus trước gây mê– Lidocain 1,5-3 mg/kg/h – Tê thấm vết phúc mạc, vết mổ trước đóng bụng bupivacain/ levobupivacain 2mg/kgrobivacain 3mg/kg– Paracetamol + opioid + NSAID – Lidocain 0,5-1mg/kg/h – PCA – Giảm đau ngoài màng cứng liên tục với PCEA áp dụng đối với phẫu thuật theo chương trình KẾT LUẬN Giảm đau sau mổ là sự cần thiết trong công tác chăm sóc và điều trị đối với bệnh nhân bao gồm công tác tư vấn, chuẩn bị, lên kế hoạch thực hiện các thuốc giảm đau hợp lý. Hiện nay, giảm đau đa mô thức đang dần chứng minh cho hiệu quả lâm sàng cải thiện đau tốt. Phát triển mô hình tiếp cận giảm đau là giải pháp tốt trong công tác điều trị trong lâm sàng. Ngoài ra, còn nhiều phương pháp giảm đau có thể kết hợp như Đông Tây Y, vật lý trị liệu,… Việc sử dụng phương pháp giảm đau đa mô thức sẽ giúp bệnh nhân mau lành vết thương, giảm thời gian điều trị, giảm chi phí và tối ưu hóa quá trình phục hồi. Bs Nguyễn Thanh Lương- Khoa Gây mê hồi sức- Bệnh viện 1A.
Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Đức Thông - Bác sĩ Gây mê hồi sức - Khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Điều trị giảm đau sau mổ là điều cần thiết đối với mỗi bệnh nhân sau các cuộc phẫu thuật. Bác sĩ sẽ dựa vào các điều kiện của người bệnh để đưa ra phác đồ điều trị giảm đau sau mổ hiệu quả nhất bằng cách lựa chọn các phương pháp như Sử dụng thuốc giảm đau hoặc gây tê vùng cho bệnh nhân. 1. Vì sao phải điều trị giảm đau sau mổ? Đau sau mổ là điều làm nhiều người bệnh lo sợ từ trước khi thực hiện phẫu thuật, là vấn đề ảnh hưởng đến tâm lý người bệnh trước và sau phẫu thuật. Nó có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan như hô hấp, tuần hoàn, nội tiết, gây ức chế hệ miễn dịch của cơ thể con điều trị giảm đau sau phẫu thuật không chỉ là việc giúp bệnh nhân giảm bớt những đau đớn trên cơ thể sau khi trải qua một buổi phẫu thuật mà còn liên quan đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp, bác sĩ không thể thờ ơ trước việc bệnh nhân có biểu hiện đau đớn và phải tìm ra phương pháp giúp đỡ người người bệnh không được điều trị giảm đau sau mổ sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, có thể gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Nếu đau chuyển sang đau mạn tính thì người bệnh sẽ phải chịu những cơn đau dai dẵng kéo dài làm giảm chất lượng sống. Vì vậy, việc giảm đau sau phẫu thuật là điều cần thiết và quan trọng trong điều trị cứu chữa người đau sau phẫu thuật sẽ giúp bệnh nhân vận động sớm sau mổ, giúp nhanh chóng hồi phục, giảm thiểu được thời gian nằm viện và giảm chi phí điều trị bệnh. Bệnh nhân có thể nhanh chóng trở lại cuộc sống sinh hoạt ngày thường, đảm bảo chất lượng lao động và cuộc sống sau khi hồi phục của người bệnh. Đau sau phẫu thuật gây ức chế hệ miễn dịch của cơ thể 2. Đánh giá các mức độ đau sau phẫu thuật Không phải bệnh nhân nào cũng cảm thấy đau đớn sau mỗi cuộc phẫu thuật, tùy vào từng tình huống khác nhau, mức độ đau của mỗi người cũng sẽ khác nhau. Việc đánh giá được mức độ đau của bệnh nhân sẽ phần nào giúp bác sĩ đưa ra được phác đồ điều trị giảm đau sau mổ hiệu quả nhất đối với bệnh độ đau của mỗi bệnh nhân có thể thay đổi theo vị trí như phẫu thuật ngực và bụng trên đau hơn phẫu thuật bụng dưới, các phẫu thuật ngoại biên và phẫu thuật bề mặt được đánh giá là ít gây đau đớn nhất so với hai loại ra, mức độ đau sau phẫu thuật còn tùy thuộc vào cơ địa, sức chịu đựng, yếu tố tâm lý của mỗi bệnh nhân 15% bệnh nhân cảm thấy không đau hoặc đau ít sau mỗi cuộc phẫu thuật, 15% bệnh nhân khác sẽ cảm thấy vô cùng đau đớn sau mỗi cuộc phẫu thuật tương đánh giá mức độ đau đớn, bác sĩ thường sử dụng các dụng cụ như Thước EVA hoặc dùng thang điểm số để nhận biết mức độ đau. Thước EVA được sử dụng phổ biến nhằm đánh giá mức độ đau đớn 3. Các biến chứng sau phẫu thuật do quá đau đớn Đau đớn sau phẫu thuật nếu không được điều trị giảm đau kịp thời sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí là tử vong. Đau đớn sau phẫu thuật gây ra các rối loạn ở nhiều cơ quan khác nhau như sauTim mạch Co mạch hệ thống hoặc co mạch vành, tăng huyết áp, dễ gây nhồi máu cơ tim hô hấp Hạn chế hô hấp làm tăng nguy cơ xẹp phổi, giảm thể tích phổi, viêm tiêu hóa Giảm thời gian làm rỗng dạ dày, giảm nhu động ruột. Bệnh nhân dễ chán ăn, có thể liệt ruột hoặc bị táo nội tiết Thay đổi phóng thích nhiều hormone, tăng đường huyết, giảm trọng lượng, tiêu cơ, hệ miễn dịch của người bệnh suy giảm và vết thương do phẫu thuật khó lành hơn. Đau sau phẫu thuật ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng giấc ngủ Hệ cơ xương khớp Co thắt cơ, ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của người bệnh, yếu cơ và gây mệt mỏi kéo dài cho người sinh lý Đau đớn kéo dài cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý của người bệnh. Họ luôn cảm thấy lo lắng, sợ hãi cơn đau, rối loạn giấc ngủ và gặp phải các hội chứng rối loạn sau chấn bài tiết Đau đớn gây giảm trương lực bàng quang và niệu đạo có thể dẫn đến bí tiểu. 4. Các phương pháp giảm đau sau phẫu thuật Điều trị giảm đau sau mổ là điều cần thiết phải thực hiện sau hầu hết các ca phẫu thuật. Tuy nhiên tùy vào mức độ đau của từng bệnh nhân, bác sĩ sẽ đưa ra phác đồ điều trị giảm đau sau mổ phù hợp nhất. Điều trị giảm đau sau phẫu thuật bằng đường uống Sau khi phẫu thuật xong, đối với những phẫu thuật nhỏ, ít đau, bác sĩ thường chỉ định sử dụng các thuốc giảm đau đường uống. Thuốc giảm đau đường uống được sử dụng đối với bệnh nhân phẫu thuật có thể ra về trong ngày hoặc ưu tiên sử dụng đối với bệnh nhân phục hồi nhu động giảm đau được sử dụng phổ biến nhất là paracetamol – thuốc có tác dụng giảm đau, hạ sốt, có thể sử dụng được cho mọi lứa tuổi. Các dòng thuốc giảm đau chống viêm không steroid sử dụng nhiều trong các phẫu thuật răng hàm mặt, phẫu thuật xương, phẫu thuật sản khoa. Các thuốc này có tác dụng giảm đau, chống sưng nề vết mổ nên thường đươc sử dụng rộng rãi sau mổ. Tuy nhiên, các thuốc giảm đau kháng viêm thường có tác dụng phụ gây viêm loét dạ dày, một số thuốc bị chống chỉ định trên bệnh nhân mắc bệnh tim mạch và trẻ em dưới 12 tuổi. Vì vậy, cần cân nhắc giữa lợi và hại trước khi sử dẫn chất có tác dụng giảm đau trung ương thường được phối hợp với paracetamol để tăng tác dụng giảm đau như codein, cafein, tramadol. Ngoài ra, Morphin đường uống chậm cũng là một trong những thuốc giảm đau thường được sử dụng trong điều trị giảm đau sau mổ. Điều trị giảm đau sau phẫu thuật sử dụng thuốc ngoài đường uống Giảm đau sau mổ sử dụng thuốc ngoài đường uống thông qua đường tĩnh mạch đối với các thuốc giảm đau không thuộc họ morphin như paracetamol và thuốc giảm đau kháng viêm không chứa steroid NSAID, có thể kết hợp sử dụng morphin trong trường hợp đau dụng các thuốc thuộc họ morphin Morphin, Fentanyl, Sufentanil, Remifentanyl đường truyền tĩnh mạch sử dụng kỹ thuật giảm đau bệnh nhân tự kiểm soát PCA, liều lượng thuốc được truyền đều đặn để đảm bảo giảm đau hoàn toàn, liên tục, người bệnh có thể tự bấm nút để bơm thêm một lượng thuốc đã được cài đặt sẵn để giảm đau ngay lúc thấy đau tăng lên. Phương pháp tiêm thuốc giảm đau vào bắp của bệnh nhân hiện không còn được khuyến khích sử dụng nữa vì gây đau và khối máu tụ sau tiêm cho bệnh nhân. Thuốc họ morphin bằng đường dưới da giúp điều trị giảm đau sau phẫu thuật Giảm đau bằng cách gây tê ngoài màng cứng Giảm đau bằng cách gây tê đám rối thần kinh, gây tê thân thần kinh, tê thần kinh ngoại vi như tê đám rối thần kinh cánh tay, tê thần kinh quay, thần kinh trụ, thần kinh ngồi, thần kinh đùi, thần kinh chày, thần kinh thẹn... Còn có các kỹ thuật gây tê vùng phức tạp đòi hỏi kỹ thuật cao như tê mặt phẳng cơ dựng sống để giảm đau trong các phẫu thuật vùng ngực, kể cả mổ tim hở, tê cơ thắt lưng chậu giảm đau vùng bụng dưới, tê cơ vuông thắt lưng giảm đau sau mổ đẻ và mổ vùng bụng dưới.... Gây tê vùng được thực hiện dưới hướng dẫn siêu âm và máy dò thần kinh đảm bảo chính xác, an toàn và hiệu quả Phương pháp gây tê ngoài màng cứng ngày càng được nhiều bác sĩ lựa chọn để điều trị giảm đau sau mổ cho bệnh nhân. Bằng cách lưu catheter ngoài màng cứng 48 đến 72 giờ, bác sĩ có thể truyền thuốc tê liên tục để giảm đau sau mổ kéo dài. Phương pháp này giảm đau hiệu quả hơn các phương pháp nêu trên, đặc biệt khi bệnh nhân ho, di chuyển hay vận động đều không gây đau đớn. Việc sử dụng các thuốc họ morphin để truyền ngoài màng cứng có thể gây tác dụng phụ như ngứa, buồn nôn, bí các phương pháp giảm đau trên, một số phương pháp khác cũng được bác sĩ sử dụng để điều trị giảm đau sau mổ cho bệnh nhân như dùng thuốc giảm đau đặt hậu môn, thuốc dán trên da, tiêm thuốc tê vào ổ khớp, đặt catheter truyền thuốc tê vào vết mổ ngay trước khi đóng vết mổ ... Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Thuốc Agichymo điều trị bệnh gì? Tìm hiểu về thuốc Nevanac Làm thế nào để hạn chế Đau chi ma - cơn đau ảo? Dịch vụ từ Vinmec
Bài viết được viết bởi Bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Thị Hoài Nam - Trưởng Đơn nguyên Giảm đau, Khoa Gây mê phẫu thuật - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park. Phẫu thuật là 1 stress về cả tâm lý và thể chất cho người bệnh. Ngoài những lo lắng, bất an về chính căn bệnh của mình và kết quả của phẫu thuật, mối quan tâm hàng đầu của người bệnh là đau và giảm đau sau mổ. Để giúp người bệnh có thể chấp nhận và nhẹ nhàng vượt qua thử thách này, cần cung cấp cho họ những điều cần biết về đau và giảm đau sau mổ. 1. Phân loại đau Đau theo định nghĩa là một trải nghiệm cảm giác và cảm xúc khó chịu liên quan đến tổn thương mô thực tế hoặc tiềm năng, hoặc mô tả về thiệt hại loại đau Phân loại đau rất hữu ích trong việc đánh giá và điều trị. Có nhiều cách phân loại loại theo sinh lýNociceptive Đau do cảm thụ đau, biểu hiện đáp ứng bình thường của cơ thể khi mô bị chấn thương hay tổn thương như da, cơ, nội tạng, khớp, gân, Đau liên quan đến tổn thương nguyên phát hay bệnh lý hệ thần kinhInflammatory Đau do viêm ví dụ viêm ruột thừa, viêm khớp...Theo cường độ thường dùng thang điểm đau từ 0-10 trong đó 0 - không đau, 10 - đau không chịu đượcĐau nhẹ 0-4 điểmĐau vừa 5-6 điểmĐau nhiều 7-10 điểm Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra đau Theo thời gianĐau cấp tính Đau kéo dài dưới 3-6 thángĐau mạn tính Đau kéo dài trên 3-6 tháng, có thể là quá trình dai dẳng của đau cấp hoặc đau sau khi mổ đã lành vết thươngĐợt cấp của đau mạn tínhĐau sau mổ được coi là cơn đau cấp tính mà người bệnh cảm nhận được ngay khi hết tác dụng của thuốc tê hay thuốc mê được dùng trong mổ. Đó là sự phối hợp các cảm giác không dễ chịu về giác quan, cảm xúc và tâm thần kết hợp với các phản ứng tự động, nội tiết và biến dưỡng, tâm lý và hành vi đáp ứng với tổn thương ngoại khoa. Cơ chế của đau sau mổ phức tạp, đau do cảm thụ đau kết hợp do viêm, tạng và bệnh lý thần sau mổ có ghê gớm lắm không? Nếu không được đánh giá và điều trị đúng mức đây quả là vấn đề đáng sợ. Tuy nhiên đừng lo lắng, bác sĩ gây mê giảm đau sẽ luôn đồng hành cùng bạn để giảm thiểu tối đa cơn đau sau mổ. Việc điều trị đau được bắt đầu trước, trong và sau mổ. Khi thăm khám tiền mê trước mổ bác sĩ gây mê sẽ chuẩn bị tâm lý và dùng thuốc tiền mê theo phác loại phẫu thuật, bác sĩ sẽ chọn phương pháp gây tê hay gây mê nghĩa là sẽ dùng thuốc tê và/ hoặc thuốc mê đảm bảo khi mổ người bệnh sẽ không còn cảm giác đau và giảm hoặc mất ý thức. Các thuốc giảm đau cũng được dùng phối hợp trước khi cuộc mổ kết thúc nhằm ngăn chặn đau sau mổ. Ở phòng hồi tỉnh, người bệnh sẽ được theo dõi dấu hiệu sinh tồn và đánh giá mức độ đau định kỳ, qua đó sẽ được điều trị đau thích hợp. Điều trị đau sau mổ sẽ được duy trì đến khi xuất viện và đôi khi cả sau khi xuất viện. Người bệnh sẽ được theo dõi các dấu hiệu và chỉ số sinh tồn sau khi mổ 2. Vì sao phải điều trị đau sau mổ? Đau là cảm nhận chủ quan của mỗi người. Cùng 1 loại phẫu thuật cùng mức độ đau nhưng với người này có thể chỉ là đau nhẹ, người kia lại thấy đau vừa hoặc đau nhiều không chịu được, vì mỗi người có thể có một ngưỡng đau khác nhau. Do đó, việc đánh giá đau rất tinh tế và cần dựa vào nhiều yếu tố, thang điểm để có kết quả chính xác. Nếu đánh giá và điều trị đau không đúng mức sẽ dẫn đến nhiều hậu quả không tốt cho người bệnhMạch nhanh, huyết áp tăng dễ gây chảy máu, các tai biến về tim mạchĐau làm người bệnh không dám cử động, ho khạc và hít thở sâu dễ đưa đến suy hô hấp, xẹp phổi, viêm dám vận động sớm, tập vật lý trị liệu sau mổ đặc biệt sau mổ xương khớp sẽ làm hạn chế cử động, cứng khớp, teo cơ, ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật, tăng nguy cơ thuyên tắc mạchLàm mất ngủ, lo âu, trầm cảmNgười bệnh không thoải mái, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc thể dẫn đến đau mạn chế miễn dịch làm chậm lành vết mổ, chậm bình phục và tăng nguy cơ nhiễm khuẩn sau mổThời gian nằm viện kéo dài, tăng nguy cơ tái nhập viện, tăng chi phí điều trị Người bệnh cần được đánh mức độ đau chính xác 3. Điều trị đau sau mổ như thế nào để có thể giảm đau hiệu quả? Trước hết cần đánh giá đúng mức độ đau nhiều hay ít, tùy vào tình trạng của từng người bệnh để có kế hoạch điều trị thích hợp. Nguyên tắc chính của điều trị đau sau mổ có sự phối hợp của người bệnh, bác sĩ mổ và bác sĩ gây mê giảm nhân phải được tham gia vào kế hoạch điều trị. Nhân viên y tế nên nghe theo đánh giá của người bệnh về triệu chứng đau của sĩ mổ Áp dụng mổ nội soi, mổ đường mổ nhỏ nếu được để hạn chế tối đa tổn thương mô và thần kinh → giảm đau sau mổ cho người bệnhBác sĩ gây mê giảm đau hiểu và nắm rõ đặc điểm của từng người bệnh, đánh giá và điều trị đau đúng mức theo phác đồ, cập nhật và thực hiện tốt các kỹ thuật giảm đau, đặc biệt kỹ thuật gây tê vùng dưới hướng dẫn siêu hiện sớm và điều trị đau có kế hoạch Người bệnh phải được theo dõi thường quy về đau sau mổ để được điều trị nhanh chóng ngay sau khi được phát hiện đau. Lưu ý các yếu tố nguy cơ khi lập kế hoạch điều trị đau Các loại phẫu thuật gây đau gồm phẫu thuật ngực bụng, phẫu thuật ảnh hưởng nhiều đến cơ, xương và mô thần kinh, cấy ghép tủy xương, tuổi bệnh nhân, tiền sử đau bao gồm đau mạn tínhSử dụng phương pháp giảm đau đa mô thức dùng càng sớm càng tốt, có thể bắt đầu trước mổ, kết hợp kỹ thuật giảm đau vùng hoặc trung ương với nhiều loại thuốc giảm đau họ á phiện Opioid và không á phiện khác nhau nhằm tăng hiệu quả điều trị, giảm thiểu các tai biến và tác dụng phụ khi dùng 1 loại thuốc đơn hồ sơ đau của người bệnh và lộ trình điều trịĐánh giá và xem lại nhu cầu giảm đau của người bệnh 24 giờ trước khi xuất viện để kê toa dùng thuốc thích hợp. Giảm đau sau phẫu thuật giúp bệnh nhân có chất lượng cuộc sống tốt hơn, sớm hồi phục sau mổ Phác đồ giảm đau đa mô thức dựa trên mức độ đau+ Độ 1 Thuốc đường tiêm hoặc uống, phối hợp các thuốc giảm đau không á phiện Paracetamol, Kháng viêm không Steroid, Nefopam dùng trong đau nhẹ → trung bình+ Độ 2 Thuốc đường tiêm hoặc uống, phối hợp các thuốc giảm đau không á phiện với thuốc á phiện Tramadol, Nalbuphine, Morphine, Fentanyl... dùng trong đau trung bình → đau nhiều.+ Độ 3 Thuốc đường tiêm, uống, dưới daPhối hợp các thuốc giảm đau không á phiệnPhối hợp các thuốc giảm đau không á phiện và á phiệnGây tê vùng ngoài màng cứng, tê tủy sống, tê thần kinh ngoại biên, tê thấm vết mổ + á phiện tiêm, uống, dưới daGây tê vùng ngoài màng cứng, tê tủy sống, tê thần kinh ngoại biên, tê thấm vết mổ + á phiện + không á phiện tiêm, uốngGây tê vùng ngoài màng cứng, tê tủy sống, tê thần kinh ngoại biên, tê thấm vết mổ + không á phiện tiêm, uống Như vậy đau sau mổ không hề đáng sợ như suy nghĩ của nhiều người nếu được đánh giá và điều trị đúng. Người bệnh nếu được trang bị kiến thức về đau sau mổ, tham gia vào quá trình điều trị bằng cách phối hợp tốt với bác sĩ mổ và gây mê giảm đau sẽ mang lại hiệu quả giảm đau hệ thống Vinmec, với trang thiết bị hiện đại máy theo dõi chỉ số đau, máy siêu âm chuyên dụng cho gây tê vùng, máy kích thích thần kinh..., phác đồ điều trị cụ thể, luôn cập nhật các kỹ thuật mới về gây tê vùng, cung cấp cho người bệnh dịch vụ điều trị đau sau mổ tốt theo đúng mục tiêu “Bệnh viện không đau” Pain Free Hospital.Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối hàng có thể trực tiếp đến hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc để thăm khám hoặc liên hệ hotline tại đây để được hỗ trợ. Kỹ thuật gây tê mặt phẳng cơ dựng sống ESP Giảm đau trọn vẹn, không cần morphin XEM THÊM Cách giảm đau sau phẫu thuật tại Vinmec có gì đặc biệt? Vinmec và Hội đồng Gây tê Vùng Châu Á tổ chức Hội thảo Quốc tế về Gây tê vùng đầu tiên tại Việt Nam Hội thảo RA Asia 2019 Hơn 200 bác sĩ được trang bị kỹ năng thực hành kỹ thuật gây tê vùng
ĐTĐ – Thực hiện giảm đau sau mổ tốt sẽ ảnh hưởng tích cực đến tâm lý và giúp bệnh nhân phục hồi nhanh sau khi được phẫu thuật. Theo bác sĩ BS Nguyễn Văn Chinh, Trưởng khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện BV Nguyễn Tri Phương, trong lúc phẫu thuật, nhờ được gây mê hoặc gây tê, chắc chắn bệnh nhân sẽ không thấy đau. Nhiều giờ sau, khi thuốc tê, thuốc mê đã hết tác dụng, nếu điều trị đau không tốt, bệnh nhân vẫn có thể chịu đựng được nhưng cảm giác đau sẽ trở thành cảm xúc lo lắng, sợ hãi. Giảm đau tốt sẽ giúp bệnh nhân phục hồi nhanh sau phẫu thuật Tâm lý không ổn định sẽ khiến họ càng đau hơn, thậm chí nổi giận với thầy thuốc, không hợp tác điều trị, ảnh hưởng xấu đến quá trình hồi phục. Ngoài ra, bị đau nhiều có thể làm tăng nặng các bệnh lý nội khoa như tim mạch, tiểu đường, hô hấp… Hiện nay, bệnh nhân cần được điều trị bằng phẫu thuật có thể yên tâm vì các phương pháp giảm đau sau mổ có rất nhiều tiến bộ. Nhờ những nghiên cứu giúp phát hiện các thụ thể đau ở tủy sống và các cơ chế gây đau, BS có thể dùng thuốc tác động trực tiếp lên những vùng đó để điều trị đau một cách hiệu quả. Dấu hiệu sinh tồn thứ 5 Cùng với mạch, huyết áp, nhiệt độ, nhịp thở, đau được xem là dấu hiệu sinh tồn thứ 5. Vì vậy, trước khi phẫu thuật, bệnh nhân phải được khám tiền mê, chuẩn bị tâm sinh lý cho cuộc mổ, tư vấn các phương pháp giảm đau, từ đó lên kế hoạch gây mê và giảm đau cho bệnh nhân. Trong quá trình điều trị đau, phải luôn đánh giá mức độ đau theo các thang điểm để đưa vào hồ sơ bệnh án và ghi thành biểu đồ. Căn cứ theo sự thay đổi các điểm đau để biết bệnh nhân đau nhiều hay ít, từ đó điều chỉnh liều lượng thuốc giảm đau thích hợp. BS sẽ theo dõi cả trước, trong và sau mổ theo phác đồ điều trị đau để đảm bảo tính liên tục. Nếu phải chuyển sang khoa khác, chỉ cần nhìn vào biểu đồ là biết bệnh nhân đau ở mức nào, dùng thuốc gì và đáp ứng ra sao để đưa ra phương thức điều trị thích hợp. BS Chinh cho biết, để tăng tính hiệu quả, bệnh nhân sẽ được giảm đau đa phương thức sau mổ, kết hợp cùng lúc nhiều kỹ thuật như truyền thuốc đường tĩnh mạch, gây tê vùng, gây tê trục thần kinh, giảm đau bằng làm lạnh, liệu pháp tâm lý, kích thích điện qua da… Đồng thời, thuốc giảm đau truyền vào người bệnh nhân cũng được dùng kết hợp để liều lượng, nồng độ thấp nhất nhằm giảm tối đa nguy cơ phản ứng phụ. Nhờ giảm đau tốt sau mổ, bệnh nhân có thể xuất viện sớm, tiết kiệm đáng kể chi phí điều trị. Thậm chí với một số trường hợp phẫu thuật nội soi ít xâm lấn, bệnh nhân có thể ra về trong ngày sau khi được tư vấn các phương pháp tự chăm sóc tại nhà. Xây dựng phác đồ bài bản Trao đổi với PV Thanh Niên, BS Tăng Hà Nam Anh, Trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình BV Nguyễn Tri Phương, nhận định giảm đau sau mổ cực kỳ quan trọng đối với việc điều trị bằng phẫu thuật. Những kỹ thuật mới như mổ nội soi hay thay khớp với đường mổ nhỏ có lợi thế là chỉ 6 giờ sau mổ, BS có thể cho bệnh nhân tập vật lý trị liệu, sớm hơn rất nhiều so với trước đây đợi đến 3-4 ngày sau mới tập. Việc tập vật lý trị liệu rất quan trọng vì khớp cần được vận động sớm. Nếu giảm đau sau mổ không tốt, bệnh nhân sẽ không dám tập, để lâu có thể dẫn đến cứng khớp, ảnh hưởng lớn đến quá trình phục hồi chức năng. Bên cạnh đó, tâm lý bệnh nhân ai cũng sợ phải động chạm đến dao kéo, đặc biệt nếu đã từng một lần bị đau nhiều sau mổ. Với tâm lý này, bệnh nhân sẽ e ngại, tìm cách thoái thác khi BS cho chỉ định mổ, kéo dài thời gian làm tình trạng ngày càng xấu đi. Đến lúc không thể trì hoãn được nữa thì việc phẫu thuật đã trở nên phức tạp hơn rất nhiều. Theo BS Nam Anh, một trong những điểm quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả giảm đau sau mổ cho bệnh nhân là xây dựng phác đồ điều trị đau bài bản và kết hợp chặt chẽ giữa các khoa ngoại với khoa gây mê hồi sức. Tại Việt Nam, nhiều BV có thể thực hiện tốt những kỹ thuật giảm đau tiên tiến nhưng chỉ một phần nhỏ trong số đó xây dựng thành phác đồ chi tiết, có kiểm chứng, báo cáo để đánh giá hiệu quả. Đặc biệt, trong phác đồ điều trị đau phải có phần giải thích “chiến lược” giảm đau cho bệnh nhân mổ sẽ đau ra sao, cơn đau lan ra thế nào nhưng sẽ được sử dụng các thuốc gì để ngăn chặn… Một khi đã được tư vấn rõ ràng, bệnh nhân sẽ không còn hoang mang, lo lắng. Tâm lý trở nên ổn định cũng đã giúp giảm đau vài phần. Ở những BV bị quá tải, vẫn có thể thực hiện được việc này bằng cách in lại phác đồ điều trị đau lên tờ rơi để phát cho bệnh nhân khi được chỉ định phẫu thuật. Nguồn Lượt xem xếp hạng 5 sao xếp hạng 5 sao xếp hạng 5 sao – xếp hạng 5 sao ý Việc đáp ứng với các liệu trình điều trị, máy, thiết bị trợ giúp là khác nhau tùy thuộc cơ địa mỗi người ! Những thông tin y học trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không được tự ý áp dụng nếu chưa được sự chỉ dẫn của thầy thuốc !Phòng khám Cột sống 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội Phụ trách chuyên môn BS Mai Trung Dũng Bác sĩ chuyên khoa cấp II Đại học y Hà hội - 2015 Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt NamCó thể bạn quan tâm
Khi sinh thường thì cơn đau chuyển dạ là nỗi sợ hãi của đa số mẹ bầu, còn khi sinh mổ thì những cơn đau sau phẫu thuật cũng là nỗi lo lắng của không ít sản phụ. Tuy nhiên hiện nay, dịch vụ đẻ mổ không đau là lựa chọn tuyệt vời, giúp các sản phụ xua tan nỗi lo này. Vậy dịch vụ đẻ mổ không đau là thế nào và cần lưu ý những gì sau khi sinh mổ?Menu xem nhanh 11. Tìm hiểu về đẻ mổ không đau là gì?2. Các phương pháp giúp đẻ mổ không Gây tê tủy Gây tê ngoài màng cứng giúp giảm đau sau Đặt thuốc hậu môn3. Một số lưu ý cho mẹ bầu sau sinh mổ1. Tìm hiểu về đẻ mổ không đau là gì?Đẻ mổ không đau được xem là một phương pháp sử dụng thuốc giảm đau can thiệp vào quá trình chuyển dạ và sinh con của người mẹ, giúp cho người mẹ vượt qua được cơn đau vượt can dễ dàng hơn và giảm thiểu đến mức tối đa cảm giác đau đớn khi phẫu thuật. Các phương pháp sinh mổ không đau được áp dụng hiện nay đó là gây tê tủy sống, gây tê ngoài màng cứng và đặt thuốc hậu mỗi phương pháp sẽ mang hiệu quả giảm đau cho mẹ bầu ở từng giai đoạn khác nhau. Ví dụ với gây tê tủy sống sẽ giúp mẹ mất đi cảm giác đau khi bác sĩ tiến hành phẫu thuật. Tuy nhiên, khi cuộc phẫu thuật kết thúc, em bé chào đời khỏe mạnh thì mẹ sẽ tiếp tục phải đối mặt với cơn đau sau sinh do vết phẫu thuật lớn ở bụng. Cơn đau vết mổ sẽ khiến cho người mẹ có cảm giác rất đau và chỉ muốn nằm yên trên giường, không dám di chuyển hay là xoay người. Lúc này, để giúp mẹ vượt qua được cơn đau sẽ cần có sự hỗ trợ của gây tê ngoài màng cứng và quá trình gây tê này cũng được tiến hành luôn trong quá trình chuẩn bị trước khi phẫu thuật. Sau khi thuốc tê hết tác dụng, nếu như cơn đau vết mổ vẫn khiến cho người mẹ cảm thấy vô cùng khó chịu thì có thể bác sĩ sẽ chỉ định thêm đặt thuốc hậu môn cho thể thấy rằng, nhờ vào những phương pháp này đã giúp cho sản phụ xóa tan được mọi nỗi lo về cơn đau vượt cạn, giúp cho quá trình hồi phục nhanh hơn, nhu động ruột sớm hoạt động trở lại, mẹ có thể tập vận động cũng như đi lại được mổ không đau là một phương pháp sử dụng thuốc giảm đau can thiệp vào quá trình sinh con, sau sinh của người mẹ, giúp cho người mẹ vượt qua được cơn đau vượt can dễ dàng hơn2. Các phương pháp giúp đẻ mổ không đauCó 3 phương pháp giúp đẻ mổ không đau thường được áp dụng trong quá trình sinh mổ đó là gây tê tủy sống, gây tê ngoài màng cứng và đặt thuốc hậu Gây tê tủy sốngGây tê tủy sống là phương pháp giảm đau bắt buộc cần phải thực hiện trong quá trình mổ lấy thai, giúp cho sản phụ đón con yêu chào đời thành công và không có cảm giác đau trong quá trình phẫu thuật. Bác sĩ sẽ tiến thành tiêm thuốc gây tê khiến cho sản phụ mất hoàn toàn cảm giác ở nửa thân dưới, tuy nhiên đau óc vẫn tỉnh táo, nhìn thấy được, nghe thấy được và cảm nhận được từng thao tác của bác sĩ khi mổ lấy thai, chỉ là không phải trải qua cảm giác đau. Tuy nhiên, sau khi hết thuốc tê thì sản phụ vẫn phải tiếp tục đối mặt với cơn đau vết trình gây tê sẽ được tiến hành như sau Đầu tiên bác sĩ sẽ sát trùng cẩn thận ở vị trí gây tê nhằm đảm bảo vô trùng tuyệt đối, tránh tình trạng nhiễm trùng và nhiễm khuẩn. Sau đó, thuốc tê sẽ được tiêm vào vùng khoang dưới nhện, gần vị trí tủy sống của sản phụ. Thuốc tê khi được bơm vào cơ thể sẽ gây tê thần kinh, giúp giảm đau tại phần thân dưới của sản phụ, đặc biệt là tại các bộ phận liên quan trực tiếp đến quá trình sinh đẻ. Quá trình diễn ra gây tê tủy sống không gây nhiều cảm giác đau, sản phụ chỉ cảm thấy hơi nhói một chút và hoàn toàn nằm trong ngưỡng có thể chịu được. Gây tê tủy sống là phương pháp đòi hỏi người thực hiện phải có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao thì thuốc tê mới phát huy được hiệu quả tối đa trong thời gian sớm tê tủy sống là phương pháp giúp sản phụ mất cảm giác ở toàn bộ thân dưới và vẫn hoàn toàn tỉnh táo trong suốt quá trình mổ lấy Gây tê ngoài màng cứng giúp giảm đau sau sinhGây tê ngoài màng cứng là phương pháp giúp làm giảm cơn đau do vết mổ hoặc co dạ con cho sản phụ. Đây là kỹ thuật sử dụng thuốc tê tại chỗ để bơm vào các khoang ngoài màng cứng. Mục đích là giúp giảm đau khi thuốc tê ngấm trực tiếp vào rễ thần kinh hoặc ổ nhận cảm đặc giác đau khi thực hiện gây tê ngoài màng cứng dễ chịu hơn rất nhiều so với cơn đau gây ra bởi kim tiêm chuyền dịch hay thậm chí với một cơn co thắt tử cung khi sinh. Quá trình tiêm thuốc tê chỉ diễn ra trong vòng 5 giây và mất khoảng 15 phút để thuốc tê bắt đầu phát huy tác dụng. Với phương pháp này, sẽ giúp mẹ vượt qua được cơn đau vết mổ từ 48-72h sau khi sinh và mẹ có thể sinh hoạt, đi lại vận động cũng như cho con bú được bình gây tê ngoài màng cứng sẽ khiến cho nhiệt độ cơ thể của sản phụ tăng lên bởi tác dụng của thuốc tê gây dãn mạch máu, tuy nhiên sẽ không làm ảnh hưởng đến sức khỏe mẹ và bé. Thuốc tê giúp ngăn chặn tín hiệu cơn đau trước khi nó được truyền vào cột sống và đi lên não, gây ra những cơn đau sau mổ cho sản phụ. Cũng giống như gây tê tủy sống, phương pháp giảm đau sau sinh mổ bằng gây tê ngoài màng cứng cũng đòi hỏi bác sĩ gây tê phải có trình độ chuyên môn tê ngoài màng cứng có tác dụng giảm đau sau sinh từ 48-72 Đặt thuốc hậu mônSau 48 hoặc 72h khi thuốc gây tê hết tác dụng, sản phụ vẫn sẽ phải tiếp tục đối mặt với cơn đau vết mổ, tuy nhiên mức độ đau lúc này đã bắt đầu có xu hướng giảm dần và thường kết thúc khoảng 2 tuần sau sinh. Lúc này, sau khi hết thuốc tê nếu như cơ thể của sản phụ vẫn đang còn cảm thấy vô cùng khó chịu thì có thể bác sĩ sẽ chỉ định thêm đặt thuốc hậu môn. Tác dụng của thuốc đặt hậu môn có khả năng kéo dài từ 5-6 tiếng giúp mẹ có thể dễ dàng di chuyển nhẹ nhàng và đẩy nhanh quá trình hồi phục. Tuy nhiên, nhiều trường hợp mẹ bầu với cơ địa nhạy cảm có thể sẽ chịu một số tác dụng phụ như đau đầu, buồn nôn. Cho nên, các bác sĩ luôn khuyến cáo sản phụ sau sinh không nên phụ thuộc quá nhiều vào thuốc giảm đau,3. Một số lưu ý cho mẹ bầu sau sinh mổChăm sóc sản phụ sau khi sinh mổ là một việc hết sức quan trọng, bởi vì việc hồi phục sau sinh mổ sẽ thường kéo dài lâu hơn so với sinh thường, ngoài ra nguy cơ bị hậu sản cũng như nhiễm trùng cũng cao hơn. Một số lưu ý dành cho sản phụ sau sinh mổ đó là– Không nên nằm quá nhiều 24 tiếng sau khi sinh Mặc dù, sau khi sinh thì việc nghỉ ngơi tại giường là cần thiết, tuy nhiên sản dịch sẽ bị tích tụ ở tử cung. Thay vì nằm một chỗ, mẹ có thể thực hiện một vài động tác vận động nhẹ nhàng như là cố gắng trở mình, xoay người, tập ngồi dậy nhẹ nhàng để giúp khôi phục sự hoạt động của ruột, dạ dày sớm. Làm cách này sẽ giúp sản phụ tránh khỏi tình trạng bị dính ruột cũng như tắc tĩnh mạch chi.– Nên cho con bú sữa sớm để kích thích dạ con co bóp, giúp tống sản dịch ra ngoài.– Sản phụ nên nằm nghiêng thay vì nằm ngửa và kê gối chăn cao sau lưng để lưng và giường có khoảng cách 20-30 độ nghiêng, giúp vết mổ bớt đau và nhanh lành hơn.– Khi vết mổ liền da là sản phụ đã có thể tắm được rồi, không nên để một tháng như những quan niệm như trước đây. Bởi vì như thế sẽ tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập, miễn sao sản phụ cố gắng không tắm nước lạnh và để cho cơ thể bị nhiễm phụ nên cho con bú sữa sớm để kích thích dạ con co bóp, giúp tống sản dịch ra thể thấy rằng, những phương pháp như đẻ mổ không đau đóng góp một phần vô cùng lớn đồng hành cùng quá trình vượt cạn với mẹ bầu. Tuy nhiên, có nhiều mẹ lo lắng rằng sau khi tiêm thuốc giảm đau vào cơ thể sẽ khiến cho cơ thể bị di chứng đau lưng sau này. Nhưng sự thật lại cho thấy rằng, cho dù mẹ không áp dụng biện pháp gì thì nguy cơ đau lưng vẫn luôn thường trực. Vậy nên, mẹ hãy yên tâm và hoàn toàn có thể sử dụng những phương pháp này vào hành trình vượt cạn của mình nhé!
các phương pháp giảm đau sau mổ